PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ: Khung chiến lược quốc gia về phát triển xây dựng xanh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
Posted by

PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ: Khung chiến lược quốc gia về phát triển xây dựng xanh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030

Quan điểm phát triển xây dựng xanh

1. Phát triển xây dựng xanh là một bộ phận gắn liền với phát triển bền vững môi trường đô thị và nông thôn, đóng góp quan trọng cho phát triển bền vững đất nước: Môi trường đô thị và nông thôn (môi trường cư trú) bền vững là kết quả của sự kết hợp hài hòa giữa môi trường nhân tạo với môi trường sinh thái tự nhiên và nhân văn của địa phương. Cụ thể là việc nghiên cứu địa điểm, môi trường tự nhiên bên ngoài công trình để lựa chọn các giải pháp can thiệp hợp lý, giảm thiểu tác động tiêu cực lên môi trường tự nhiên; Cũng như nghiên cứu môi trường bên trong công trình để có các giải pháp tạo tiện nghi, vệ sinh và an toàn cho người sử dụng trên cơ sở thích ứng với khí hậu địa phương.

2. Phát triển xây dựng xanh cần phải phù hợp với điều kiện và trình độ phát triển kinh tế – xã hội của nước ta: Phát triển công trình xanh như là xu hướng chủ yếu của thời đại, nhất thiết phải dựa  trên sự lựa chọn thông minh những kỹ thuật và công nghệ hiện đại, tiên tiến của thế giới, đồng thời kết hợp khai thác những tri thức và kinh nghiệm truyền thống để sáng tạo ra những giải pháp phù hợp với điều kiện của Việt Nam. Vì thế để phát triển công trình xanh có bản sắc, nhất thiết phải xuất phát và phù hợp với điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế từng vùng miền.

3. Phát triển xây dựng xanh phải coi yêu cầu sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên và năng lượng là tiêu chí quan trọng nhất: Sử dụng tiết kiệm, hợp lý đất đai thông qua việc bố trí chức năng hợp lý và không làm mất  cần bằng của hệ sinh thái địa phương; Sử dụng vật liệu địa phương hoặc vật liệu thân thiện với môi trường;  Sử dụng tiết kiệm và hiệu quả nguồn nước; Chú  trọng sử dụng tiết kiệm và hiệu quả nguồn năng lượng, phát triển sử dụng năng lượng tái tạo,…trong các giải pháp quy hoạch, kiến trúc và kỹ thuật xây dựng công trình.

4. Phát triển xây dựng xanh phải có bản sắc văn hóa, lấy con người làm trung tâm, trên cơ sở phát huy tối đa vai trò của cá nhân và sự tham gia của cộng đồng, của các tổ chức xã hội và doanh nghiệp: Đề cao và tôn vinh vai trò cá nhân tiên tiến trong sáng tạo, như là chuyên gia, nhà khoa học có trách nhiệm và  nghĩa vụ dẫn dắt cộng đồng xã hội trong sự nghiệp phát triển công trình xanh; Tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức xã hội về công trình xanh để huy động sự tham gia tích cực và hiệu quả trong xây dựng và phát triển công trình xanh của mọi thành phần xã hội, từ cộng đồng đến các tổ chức xã hội, nghề  nghiệp và doanh nghiệp; Đó chính là xã hội hóa sự nghiệp phát triển công trình xanh.

5. Đầu tư công (vốn ngân sách Nhà Nước) vào xây dựng công trình xanh phải là tấm gương đi đầu cho nhân dân và các nhà đầu tư tư nhân noi theo: Chính phủ trung ương và chính quyền địa phương đưa ra các quy định và cơ chế quản lý để tất cả các công trình được đầu tư mới hay đại tu, nâng cấp bằng vốn ngân sách Nhà Nước phải được thiết kế và xây dựng theo các tiêu chí công trình xanh. Đó là sự cam kết và là hành động gương mẫu rất quan trọng của chính quyền đối với sự phát triển bền vững của ngành xây dựng.

Mục tiêu phát triển xây dựng xanh

1. Thiết kế quy hoạch địa điểm công trình có tính  bền vững môi trường

Lựa chọn địa điểm xây dựng, thiết kế cảnh quan môi trường xung quanh, chọn hướng nhà và thiết kế công trình trên quan điểm phát triển bền vững môi trường. Đây là giai đoạn có ảnh hưởng rất rộng lớn đến tính bền vững môi trường, giảm thiểu tác động môi trường, bảo đảm điều kiện sống tốt và giảm chi phí vận hành trong suốt vòng đời của công trình. 

2. Sử dụng năng lượng có hiệu quả

Điển hình cụ thể là giảm thiểu sử dụng năng lượng nhân tạo phục vụ điều hòa không khí, thông gió, chiếu sáng … bằng cách thiết kế cách nhiệt cho kết cấu tường, mái, sàn nhà, chống bức xạ mặt trời chiếu qua cửa sổ vào nhà, tổ chức, bố trí các không gian công trình sao cho tận dụng thông gió tự nhiên làm mát công trình trong mùa hè, tận dụng ánh sáng tự nhiên và bức xạ sưởi ấm chiếu qua cửa sổ  trong mùa đông. Trồng cây xanh, thảm cỏ xung quanh, trên mái và cả trên ban công, lôgia, tầng trống trong công trình để điều tiết vi khí hậu bằng hình thức thân thiện sinh thái. Sử dụng năng lượng tái tạo như là panel pin năng lượng mặt trời sản sinh điện phục vụ công trình, sử dụng Thái Dương Năng cấp nước nóng. Chiếu sáng bằng đèn LED năng lượng thấp (low-power LED) và dùng các thiết bị, công nghệ trong công trình tiêu thụ năng lượng thấp, v.v…

3. Sử dụng nước có hiệu quả

Giảm thiểu tiêu thụ nước trong công trình và bảo vệ chất lượng môi trường nước xung quanh, như là sử dụng thiết bị vệ sinh xối nước vô cùng nhỏ (ultra-low flush toilets) và vòi hoa sen phun nước chảy nhỏ (low-flow shower heads). Tận dụng nước mưa và tái sử dụng nước thải để dùng làm nước vệ sinh, nước rửa sân sàn và nước tưới cây…

4. Sử dụng vật liệu có hiệu quả

Sử dụng vật liệu có tác động xấu đến môi trường nhỏ nhất, ưu tiên sử dụng vật liệu không nung, vật liệu địa phương, vật liệu tái sinh, tái chế, vật liệu nhẹ có khả năng cách nhiệt tốt, v.v…

5. Chất lượng môi trường không khí trong công trình

Giảm thiểu chất hữu cơ bay hơi ( volatile organic compounds – VOC), khí thải ô nhiễm phát sinh từ đun bếp, từ chất tẩy rửa vệ sinh… trong công trình bằng cách sử dụng vật liệu xây dựng và sản phẩm nội thất có phát thải khí ô nhiễm thấp hoặc bằng “0” (low-zero emissions) và bảo đảm đầy đủ điều kiện thông gió tự nhiên trong công trình.

6. Giảm thiểu chất thải (nước thải, chất thải rắn)

Giảm thiểu chất thải cũng là biện pháp có hiệu quả tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên. Làm thế nào để các chất thải từ công trình trở thành vật liệu có ích cho con người. Như là chất thải rắn hữu cơ dễ phân hủy và nước đen có thể chế biến thành phân bón, tái chế các chất thải bằng kim loại, thủy tinh, giấy và ni lông, chất dẻo. Hay là nước xám (nước thải từ tắm rửa, rửa bát đĩa, từ máy giặt, nước rửa sàn) có thể được dễ dàng xử lý và tái sử dụng cho mục đích vệ sinh trong công trình và tưới cây xanh.

Mục tiêu phát triển xây dựng xanh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030

1. Mục tiêu phát triển công trình xanh ở nước ta đến năm 2020 phải đạt tỷ lệ khoảng 30% số lượng các công trình được đầu tư xây dựng mới và sửa chữa bằng nguồn vốn ngân sách Nhà Nước và đạt tỷ lệ khoảng 10% số lượng các công trình được đầu tư mới và sửa chữa bằng nguồn vốn tư nhân.

2. Mục tiêu phát triển công trình xanh ở nước ta đến năm 2030 phải đạt tỷ lệ khoảng 60% số lượng các công trình được đầu tư xây dựng mới và sửa chữa bằng nguồn vốn ngân sách Nhà Nước và đạt tỷ lệ khoảng 20% số lượng các công trình được đầu tư mới và sửa chữa bằng nguồn vốn tư nhân.

3. Từ chỉ tiêu % số lượng  công trình đạt được các tiêu chí về công trình xanh nêu trên có thể định ra chỉ tiêu về tiết kiệm năng lượng, nguồn nước, tài nguyên thiên nhiên, giảm thiểu phát thải khí nhà kính…, và hiệu quả cải thiện chất lượng sống trong các  công trình xanh ở Việt Nam.

Các hoạt động chủ yếu của chiến lược phát triển xây dựng xanh

1. Xây dựng các chính sách, các cơ chế của quốc gia, tháo gỡ tất cả các rào cản, trở ngại, xây dựng các cơ chế chính sách  ưu đãi đối với thành phần kinh tế tư nhân, người Việt Nam hay người nước ngoài tham gia phát triển công trình xanh ở Việt Nam (cơ chế chính sách ưu đãi về vật chất và phi vật chất: Nhà đầu tư được ưu tiên vay vốn, giảm trừ thuế, cho phép tăng số tầng nhà, tăng diện tích nhà, tặng giải thưởng, ưu tiên hoặc hỗ trợ cấp phép xây dựng v.v…)  nhằm phát triển mạnh mẽ xây dựng xanh, kiến trúc xanh ở nước ta, rút ngắn khoảng cách về phát triển xây dựng xanh của nước ta so với các nước trong khu vực, để ngành xây dựng đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp phát triển kinh tế xanh, phát triển bền vững đất nước.

2. Xây dựng và ban hành các chính sách, cơ chế để bảo đảm rằng Nhà nước đi tiên phong trong việc phát triển công trình xanh ở Việt nam, cụ thể là yêu cầu bắt buộc tất cả  các dự án thiết kế và xây dựng các công trình được đầu tư bằng vốn ngân sách nhà nước của Trung ương và địa phương phải đạt các tiêu chí công trình xanh để trở thành các công trình xanh tiên phong và tiêu biểu, làm gương cho các công trình đầu tư của tư nhân noi theo.

3.  Từng bước chỉnh sửa các quy chuẩn, tiêu chuẩn hiện hành có liên quan của quốc gia và của ngành xây dựng, cũng như xây dựng và ban hành các quy chuẩn, tiêu chuẩn mới cho phù hợp với các chính sách phát triển xây dựng xanh, sử dụng năng lượng có hiệu quả và thích ứng với biến đổi khí hậu.

4.  Xác lập khung hệ thống các tiêu chí đánh giá thế nào là công trình xanh ở Việt Nam  từ  nay đến năm 2020 và trong tương lai, từ năm 2020 đến năm 2030; Hệ thống tiêu chí công trình xanh phải có tính khả thi, phù hợp với điều kiện Việt Nam, tiến dần từ thấp lên cao, theo kịp với trình độ của thế giới.

5.  Hình thành hệ thống tổ chức đánh giá, bình chọn, xếp hạng và các thủ tục cần thiết để cấp chứng chỉ, công nhận danh hiệu công trình xây dựng xanh của nước ta. Định hướng xây dựng quy trình và thủ tục xét chọn và công nhận các công trình đạt các tiêu chí  công trình xanh ở Việt Nam theo các cấp khác nhau: 1 sao, 2 sao, 3 sao, 4 sao và 5 sao.

6.  Bằng mọi biện pháp phát triển công trình xanh ở nước ta đến năm 2020 phải đạt tỷ lệ khoảng 30% số lượng các công trình được đầu tư xây dựng mới và sửa chữa bằng nguồn vốn ngân sách Nhà Nước và đạt tỷ lệ khoảng 10% số lượng các công trình được đầu tư mới và sửa chữa bằng nguồn vốn tư nhân. Phấn đấu đến năm 2030 đạt gấp 2 lần tỷ lệ công trình xanh năm 2020. Từ chỉ tiêu % số công trình đạt được các tiêu chí về công trình xanh nêu trên có thể định ra chỉ tiêu về tiết kiệm năng lượng, nguồn nước, tài nguyên thiên nhiên, giảm thiểu phát thải khí nhà kính …, và hiệu quả cải thiện chất lượng sống trong các  công trình xanh ở Việt Nam.

7. Xây dựng năng lực thiết kế, xây dựng công trình xanh. Sự thiếu hụt chuyên gia, cũng như sự thiếu hụt về kỹ năng thiết kế và xây dựng công trình xanh là nhân tố gây cản trở hàng đầu đối với phát triển công trình xanh.  Vì vậy cần phải có kế hoạch chỉnh sửa các chương trình đào tạo, lồng ghép các nội dung kiến thức về quy hoạch, thiết kế, xây dựng và quản lý công trình xanh trong đào tạo các ngành thuộc lĩnh vực xây dựng và kiến trúc có  tiên quan ở các trường đại học, đồng thời đẩy mạnh việc tổ chức các lớp tập huấn, các lớp đào tạo chuyên đề, để nâng cao trình độ chuyên môn về thiết kế công trình xanh, tiến tới bảo đảm đủ số lượng và chất lượng chuyên gia về thiết kế và xây dựng công trình xanh cho đất nước.

8. Giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức về công trình xanh cho mọi đối tượng trong cộng đồng dân cư. Phát triển công trình xanh không chỉ đơn thuần chỉ là thiết kế và xây dựng công trình xanh, mà sự bền vững của phát triển công trình xanh còn phụ thuộc vào thái độ và cách thức sử dụng của người sử dụng công trình xanh. Phải làm cho mọi người hiểu biết các lợi ích do các công trình xanh mang lại, từ đó yêu thích và mong muốn được sống trong các ngôi nhà xanh. 

9. Đẩy mạnh nghiên cứu phát triển cơ sở khoa học và công nghệ, kỹ thuật phục vụ phát triển công trình xanh ở nước ta.

10. Định hướng phát triển khu đô thị xanh, thành phố xanh. Các đặc điểm cơ bản của phát triển khu đô thị xanh, thành phố xanh là:  Các khu đô thị xanh, thành phố xanh trước hết là nó được cấu thành từ các công trình xanh; Địa điểm xây dựng khu đô thị hay thành phố phải có tính bền vững; Quy hoạch khu đô thị hay thành phố tạo ra  môi trường hài hòa và cuộc sống thuận lợi cho tất cả các nhóm xã hội  và cộng đồng; Không gian xanh và mặt nước được bảo tồn và phát triển; Không gian công cộng của khu đô thị hay thành phố phải thỏa mãn mọi nhu cầu sinh hoạt văn hóa, xã hội, giao tiếp, nghỉ ngơi, sức khỏe… của cộng đồng dân cư; Giao thông thân thiện với môi trường, bãi đậu xe và lối đi lại tiện lợi và an toàn; Khu đô thị hay thành phố phải đạt được môi trường sạch (nước sạch, không khí sạch, đất sạch) và đa dạng sinh học được bảo tồn.

Các biện pháp thực hiện chiến lược chủ yếu

1. Tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức về phát triển xây dựng  xanh: Vấn đề tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của xã hội về xây dựng xanh, để xã hội thừa nhận, ủng hộ là rất quan trọng; Đặc biệt là phải làm cho các nhà quản lý, các nhà đầu tư tích cực hưởng ứng, các nhà thiết kế, nghiên cứu phải được khuyến khích tìm tòi, sáng tạo; Phải làm cho mọi người thấy được phát triển xây dựng xanh là hoạt động đóng góp thiết thực để bảo vệ tài nguyên và môi trường, ứng phó với BĐKH, giữ vững an ninh năng lượng, nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm phát triển bền vững quốc gia.

2. Nhà nước đi tiên phong trong việc xây dựng các công trình xanh bằng vốn ngân sách Nhà nước để làm gương, hạt nhân thúc đẩy và phát động các nhà đầu tư tư nhân, các nhà xây dựng, các nhà thiết kế, các doanh nghiệp, các tổ chức cơ sở và cộng đồng tham gia tích cực phát triển công trình xanh ở Việt nam;

3. Nhà nước thu hút, hỗ trợ và ủng hộ các hội nghề nghiệp, các tổ chức  phi chính phủ (NGO) tham gia hoạt động phát triển công trình xanh ở Việt Nam;

4. Tăng cường hợp tác quốc tế về phát triển công trình xanh, đặc biệt là đẩy mạnh quan hệ hợp tác với Hội đồng xây dựng xanh của Thế giới (The World Green Building Council) và Hội đồng xây dựng xanh hay các tổ chức tương tự của các nước trên thế giới. 

Nguồn: http://www.constructiondpt.hochiminhcity.gov.vn/

0 0 1843 21 August, 2014 Chưa phân loại August 21, 2014
0 votes

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Facebook Comments